Friday, February 24, 2017

2750. PHẠM CAO HOÀNG Back to Vietnam


Trong sương mù Đà Lạt, 28.8.2016 - Photo by TK



Cả nhà cùng về Việt Nam để vợ chồng cô út Quỳnh Anh ra mắt bà con nội ngoại. “Lần này mình đi gọn nhẹ, chủ yếu là hành lý xách tay cho đỡ vất vả”. Mọi người nói với nhau như vậy. Nhưng rồi các bà các cô cũng cứ ghé Cotsco, Target… mua cái này sắm cái nọ. Vẫn là xà bông thơm, kem đánh răng, nước hoa, sô-cô-la, thuốc tây, quần áo… Cuối cùng, “gọn nhẹ” nhưng mỗi người vẫn 2 thùng - trọng lượng tối đa các hãng hàng không cho phép. Người Việt xa xứ ai cũng vậy thôi, mỗi lần về nước cứ phải lỉnh kỉnh mang theo đủ thứ dù biết bà con bạn bè ở quê nhà không thiếu những thứ này.

Phải dùng một chiếc xe truck mới có thể chở hết hành lý ra phi trường Dulles. Cả nhà xúm nhau đẩy hành lý vào bên trong để làm thủ tục check in. Cô nhân viên hãng hàng không ANA nhìn đống hành lý rồi nhìn chúng tôi, giọng ái ngại, “Chuyến bay đi Tokyo đã bất ngờ bị hủy bỏ vì bão”. Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Trời đất ơi! Thật là ngao ngán nếu phải chở đống hành lý này quay về nhà và chậm một hai ngày sẽ lỡ chuyến bay Sài Gòn – Đà Lạt đã đặt vé trước. Chúng tôi đề nghị hãng hàng không ANA tìm cho một lộ trình khác thay vì lộ trình Virginia – Tokyo – Sài Gòn. Cuối cùng thì họ cũng giúp chúng tôi tìm được chuyến bay để đi ngay trong ngày theo lộ trình Virginia – Frankfurt (Đức) – Bangkok (Thái Lan) – Sài Gòn. Lộ trình này sẽ mất 40 tiếng cho cả chuyến đi, nhiều hơn lộ trình chúng tôi đã chọn 17 tiếng. Đành chấp nhận thôi. Vất vả một chút nhưng sẽ không lỡ mọi việc đã sắp xếp.


Chờ lên máy bay ở phi trường Frankfurt - Ảnh: PCH - 21.8.2016


Phi trường Frankfurt rộng mênh mông. Nhân viên ở đây kiểm tra an ninh rất gắt gao vì lý do chống khủng bố. Theo các bảng chỉ dẫn, chúng tôi phải mất một tiếng đồng hồ mới đến được cửa để lên máy bay. Đến phi trường Bangkok, vừa xuống khỏi máy bay đã có một cô nhân viên người Thái Lan xinh đẹp chờ sẵn, nhẹ nhàng dẫn chúng tôi đi qua nhiều lối đi khác nhau mất 30 phút để kịp lên chuyến bay Bangkok – Sài Gòn. Đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.

Hôm sau chúng tôi lên đường về Đà Lạt. Ở đó được một ngày bỗng dưng tôi ngã bệnh. Đầu nhức như búa bổ, chân tay mỏi rã rời. Mọi người háo hức đi chỗ này thăm chỗ nọ, còn tôi thì nằm lì trong phòng. Một ngày nữa trôi qua, tôi vẫn không cảm thấy khỏe hơn. Tôi quyết đinh đi đến phòng khám của một bác sĩ ở đường La Sơn Phu Tử. Bác sĩ cho chụp hình phổi, tim, và sau khi nghe tôi khai bệnh ông cho biết do tôi không thích nghi kịp với khí hậu ở địa phương nên sinh bệnh. Ông cho tôi ba loại thuốc. Chi phí tất cả khoảng 20 dollars, kể cả tiền chụp phổi và tim. Chỉ một đêm sau khi uống thuốc tôi khỏe hẳn. Nhờ vậy, tôi đã có thể xuất hiện trong buổi họp mặt để Quỳnh Anh và Duy Bảo ra mắt bà con bên ngoại. Thật là kỳ diệu. Ông bác sĩ này quả là giỏi.

Chuyện nằm bệnh mấy ngày làm tôi hỏng kế hoạch thăm bạn bè. Bạn bè thì nhiều, thời gian không còn bao nhiêu. Tôi đành phải thay đổi kế hoạch, tìm đến thăm người bạn lâu năm nhất là Nguyễn Dương Quang. Khi đến Nguyễn Dương Quang, tôi gặp vợ chồng Đặng Kim Côn cũng đang có mặt ở đây. Lại rong chơi cùng núi đồi, cà phê cà pháo, nhắc chuyện xưa chuyện nay…

Nguyễn Dương Quang - Đà Lạt, 28.8.2016 - Ảnh: PCH


Sáng nào chúng tôi cũng đi bộ ra bờ hồ thật sớm và tôi thật may mắn khi bất chợt một buổi sáng nhìn thấy mặt hồ đầy sương mù. Tôi say mê chụp những tấm ảnh sương mù Đà Lạt. Tôi rủ Nguyễn Dương Quang và Đặng Kim Côn ra bờ hồ thật sớm để chụp ảnh cho hai chàng. Tiếc là hôm ấy không còn sương mù nhưng bù lại tôi cũng kịp ghi lại cho hai chàng mấy bức ảnh bình mình trên hồ Xuân Hương.


Hồ Xuân Hương, một buổi sáng sương mù - Ảnh PCH,  Đà Lạt, 28.8.2016


Xong việc ở Đà Lạt chúng tôi lên đường đi Tuy Hòa. Ra sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi lại gặp chuyện rắc rối: chuyến bay mà chúng tôi dự định đi Tuy Hòa vào lúc 2 giờ rưỡi chiều đã cất cánh hồi sáng sớm. Chúng tôi không được thông báo về việc thay đổi thời gian của chuyến bay. Xưa nay tôi chỉ thấy máy bay bị delayed, giờ bay bị chậm lại, chứ máy bay buổi chiều mà cất cánh buổi sáng thì đây là lần đầu tiên tôi gặp.  Đúng là chuyện chỉ có ở Việt Nam. Cuối cùng họ xếp cho chúng tôi đi trên chuyến bay sáng hôm sau. Đến nơi lúc 10 giờ, chủng tôi đi thẳng về quê để kịp dự buổi họp mặt giới thiệu Quỳnh Anh và Duy Bảo cho bà con bên nội trưa hôm ấy. Căn nhà xưa trở nên rộn ràng với giọng nói, tiếng cười cùng những khuôn mặt thân quen. Cơm nước xong, mọi người cùng nhau ngồi dưới những tàng cây ngoài vườn đàn, hát, đọc thơ.

Trong số bạn bè còn lại ở Tuy Hòa, tôi rất vui khi gặp lại anh chị Trần Huiền Ân. Anh chị vẫn vậy, vẫn hiền hòa, chơn chất. Nhà cửa anh chị bây giờ khang trang hơn, các con đều thành đạt. Anh đưa tôi ra chùa Hồ Sơn thăm thầy Nguyên Đức – người mà tôi cũng rất muốn gặp lại trong lần trở về này. Trước 1975, thầy Nguyên Đức là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Bồ Đề Hiếu Xương – nơi tôi đã từng giảng dạy đầu thập niên 70 trước khi thuyên chuyển về Lâm Đồng. Tôi quí thầy Nguyên Đức vì ông là người biết chiêu hiền đãi sĩ, luôn luôn dành cho giới cầm bút chúng tôi một tình cảm đặc biệt.  Thầy Nguyên Đức vẫn như ngày nào: vui vẻ, cởi mở, sôi nổi trong mọi câu chuyện. Chùa thì chẳng thiếu cơm chay nhưng tôi mời thầy và anh Trần Huiền Ân ra một quán ăn chay ở đường Nguyễn Thái Học dùng bữa cơm chiều như một cách biểu lộ lòng quí trọng của mình đối với thầy. Thầy vui vẻ nhận lời.

Cúc Hoa - Phạm Cao Hoàng - thầy Nguyên Đức - Trần Huiền Ân
Bữa cơm chay ở đường Nguyễn Thái Học • Tuy Hòa, 4 tháng 9.2016


Cùng đi với tôi lên Đà Lạt và ra miền trung lần này có vợ chồng anh Hoàng – chị Hạnh. Anh là anh kề của tôi, đang sống ở California. Từ nhỏ đến bây giờ chúng tôi rất gần gũi với nhau. Đây là dịp để chúng tôi cùng đi thăm những người thân yêu của mình. Mấy chục năm rồi anh và tôi mới có dịp đi chung với nhau trong một chuyến đi xa như thế này.


Anh Hoàng & chị Hạnh - Đà Lạt, 28.8.2016 - Ảnh: PCH

Chúng tôi còn một người chị ở Quy Nhơn nên hai anh em quyết định ra ngoài ấy thăm chị. Khi chúng tôi đến, chị và các con đã chuẩn bị một bữa trưa thịnh soạn mừng ngày hội ngộ. Chị đã 80 tuổi, nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, ra tận đầu đường đón chúng tôi, dẫn chúng tôi băng qua đường giữa dòng xe cộ đông đúc. Chị chẳng ăn gì cả, cứ đi vòng quanh thúc giục chúng tôi ăn thật nhiều cho chị vui. Các cháu kể lại cả tháng nay chị đếm từng ngày chờ gặp lại mấy đứa em xa xứ. Chúng tôi thấm thía sự thiêng liêng của tình cảm gia đình. Nhìn khuôn mặt chị mà thương cha nhớ mẹ.

Các cháu đưa chúng tôi lên thăm mộ Hàn Mặc Tử. Ít có thi sĩ nào có được một ngôi mộ đẹp như vậy. Mộ nằm trong một khu du lịch, hằng ngày đón rất nhiều du khách đến thăm. Trong khu du lịch này có một quán cà phê rất đẹp. Quán có tên Hoàng Hậu, được xây phía trên Ghềnh Ráng, ngồi trong quán có thể nhìn ra biển. Khi ra về, tôi tự nghĩ sẽ là một thiếu sót nếu đến Quy Nhơn mà chưa thăm mộ Hàn Mặc Tử, chưa uống một ly cà phê ở quán Hoàng Hậu.


Thăm mộ Hàn Mặc Tử - Quy Nhơn, 6 tháng 9.2016


Chúng tôi chỉ có một đêm ở Quy Nhơn. Tôi cần phải gặp Mang Viên Long – người bạn văn hơn 40 năm tôi chưa gặp. Anh ở An Nhơn, cách Quy Nhơn khoảng 1 giờ đi xe máy. Tôi không đủ thời gian ra thăm anh, mặc dù rất muốn. Tôi điện thoại rủ anh vào Quy Nhơn. Bảy giờ sáng anh vào gặp chúng tôi ở quán cà phê Xưa Và Nay. Quán nằm sát bãi biển nên tôi có thể chụp cho anh một vài tấm ảnh trên bãi biển Quy Nhơn. Anh vui lắm, buổi chiều anh đưa ngay mấy tấm ảnh lên trang facebook của anh. Anh cho biết sẽ gặp lại tôi ở Sài Gòn vì anh chuẩn bị vào gặp bác sĩ Thân Trọng Minh và các bạn Quán Văn.


Mang Viên Long - Ảnh: PCH - Quy Nhơn, 7 tháng 9.2016


Xong việc ở Qui Nhơn, chúng tôi về lại Sài Gòn.

Những ngày ở Sài Gòn, chúng tôi có dịp gặp các bạn Quán Văn, tận mắt thấy cơ ngơi của nhà văn Nguyên Minh. Trên căn gác nhỏ nhìn ra phi trường Tân Sơn Nhất, tôi được gặp lại vợ chồng anh Nguyên Minh, BS Đỗ Hồng Ngọc, BS Thân Trọng Minh, vợ chồng Đoàn Văn Khánh, Mang Viên Long, Hoàng Kim Oanh, Elena và Trương Văn Dân, Nguyễn Sông Ba và Kim Chi, Cao Bá Hưng, Đoàn Thị Phú Yên và đặc biệt gặp Nguyễn Minh Nữu vừa từ Mỹ về. Nguyên Minh muốn gửi sách báo cho bạn bè ở Mỹ. Tôi nhận mang giúp anh 15 ký sách báo và cả các bức tranh của anh Thân Trọng Minh gửi tặng các anh Trương Vũ, Nguyễn Tường Giang, Trần Doãn Nho. Tôi và Nguyễn Minh Nữu cũng được anh Thân Trọng Minh tặng mỗi người một bức. Quí lắm, anh Thân Trọng Minh ơi, và cám ơn anh rất nhiều.


Gặp gỡ các bạn Quán Văn - Sài Gòn, 1.9.2016



Gặp gỡ các bạn Quán Văn - Sài Gòn, 9.9.2016

Tôi có dịp rong chơi với Nguyễn Sông Ba và Kim Chi – hai nhà báo chuyên nghiệp, hai người bạn thân thiết từ thời ở Đà Lạt. Nguyễn Sông Ba tên thật là Nguyễn Hữu – người mà tôi có nhắc đến trong phần đầu truyện ĐÃ BA NĂM MÌNH KHÔNG CÓ TẾT. Khi vẽ tranh anh ký tên Nguyễn Sông Ba và các tác phẩm nhiếp ảnh anh ký tên Nguyễn Hữu. Anh cũng chính là người trình bày, in ấn tập thơ thứ hai của tôi – tập TẠ ƠN NHỮNG GIỌT SƯƠNG, xuất bản vào năm 1974. Gần 10 năm nay, Nguyễn Sông Ba và Kim Chi nghiên cứu về nhân điện, lặn lội tìm đến những nơi xa xôi như Úc, Ấn Độ, Sri Lanca để học hỏi, về nước chữa bệnh miễn phí cho nhiều người. Hai bạn đã hướng dẫn cho Cúc Hoa và tôi một số bài tập mà tôi nghĩ là rất hữu ích cho sức khỏe của mình.

Nguyễn Sông Ba - Ảnh PCH - Sài Gòn, 9 tháng 9.2016

Kim Chi - Ảnh PCH - Sài Gòn, 9 tháng 9.2016


Tôi cũng có dịp gặp lại anh chị Nguyễn Quốc Thái ở Coffee Bean nằm đối diện nhà thờ Đức Bà. Anh Thái cho biết mỗi khi về nước anh Đinh Cường thường ngồi ở đây. Các bạn Trần Thị Nguyệt Mai, Duyên, Tùng cũng vậy. Cũng ở Coffee Bean, tôi có dịp găp lần đầu chị Ý Nhi, anh Nguyễn Trung Dân, anh Từ Hoài Tấn, và hai người bạn trẻ dễ mến: Trần Lê Sơn Ý, Trần Thi Ca. Cúc Hoa để ý thấy anh Thái gọi một ly cà phê nhưng chia làm hai để rót vào một ly khác. Tôi nói nhỏ với Hoa. “Nửa ly kia là của anh Đinh Cường”. Anh Đinh Cường ra đi đã 8 tháng nhưng anh Thái vẫn chưa nguôi nỗi nhớ thương. Anh Thái và chị Ý Nhi cho biết các bạn ở Huế đang in một cuốn sách gồm những bài viết về Đinh Cường, và cả hai rất mong khoảng 1000 bài thơ của Đinh Cường cần được in thành sách. Dĩ nhiên tôi rất ủng hộ những projects này. Tôi tò mò để ý xem vì sao Coffee Bean được giới cầm bút ở Sài Gòn ưa thích nhưng không tiện hỏi. Riêng tôi, nếu tôi ở Sài Gòn, Coffee Bean là nơi tôi sẽ đến hàng ngày vì cà phê ở đây rất ngon, nhất là cà phê sữa. Tôi nói với anh Thái, “PCH bỏ thuốc lá lâu rồi, nhưng uống ly cà phê này tự dưng nghĩ đến một điếu thuốc ”. Anh Thái lấy trong túi xách một điếu xì gà loại nhỏ, thanh, cán gỗ, cười hóm hỉnh, “Hút một điếu xì gà vậy nhé”. Uống cà phê Bean, hút xì gà, còn gì thú vị hơn!


Từ Hoài Tấn - Nguyễn Quốc Thái - Ngọc - Cúc Hoa - Phạm Cao Hoàng
Sài Gòn, 8 tháng 9.2016 - Ảnh: Trần Thi Ca

Còn nhiều người tôi cần phải gặp nhưng đã đến ngày chúng tôi lên đường về lại Virginia. Lúc ngồi ở phòng đợi chờ lên máy bay, Thiên Kim hỏi tôi, “Cảm giác của ba thế nào khi rời Việt Nam ?”. Tôi nói, “Buồn vì sẽ còn lâu mình mới có dịp quay về, còn lâu mới thấy lại khuôn mặt thân yêu của bạn bè và người thân”.

Phạm Cao Hoàng
Virginia, 14.9.2016






Cúc Hoa & Quỳnh Anh
Sài Gòn, 2 September 2016 - ngày cô út lấy chồng
Photo by Phạm Cao Hoàng



Thursday, February 23, 2017

2749. Tranh TRƯƠNG THỊ THỊNH: LỐI VỀ sơn dầu trên bố, 30" x 40", 2006


Tranh
TRƯƠNG THỊ THỊNH


LỐI VỀ
sơn dầu trên bố, 30" x 40", 2006

Wednesday, February 22, 2017

2748. Thơ TRẦN HUIỀN ÂN Bài hát ngày về


Coming home – Tranh Ninjatic



Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay

Giá như người xưa...gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời

Ta, một kẻ hèn - kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen

Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già toả mát trăm năm
Giá như người xưa- cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm

Ta còn gì chăng? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhoà nhạt giữa đồng

Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây

Trần Huiền Ân
1 9 9 9



2747. Thơ LÊ PHƯƠNG NGUYÊN Vầng dương còn lấm bụi mù


Ảnh: internet



Thôi thì rũ áo phong sương,
Xếp tàn y, giữ chút hương giang hồ.
Đã không dựng được cơ đồ,
Cầm bằng mây khói giấc mơ đổi dời…
Mênh mông một nỗi đau đời;
Giật mình ngoảnh lại kiếp người phù du
Vầng dương còn lấm bụi mù
Không soi thấu đến bể sầu thế nhân


Lê Phương Nguyên
Điền trang Lộc Xuân
18.7.2004

Tuesday, February 21, 2017

2746. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Người thi sĩ ấy không còn làm thơ


Hoa dã quỳ Đà Lạt  (Nguồn: vietjet.net)



mười năm và mười mùa đông
trong hơi thở có hương nồng em trao
có tình em rất ngọt ngào
trong  veo như giọt sương đèo Prenn
nồng nàn như đêm Lâm Viên
như  Đà Lạt với lời nguyền năm xưa
tôi và em vẫn đi về
trên con đường có nhiều hoa dã quỳ
có hò hẹn thuở tình si
có gian nan có nhiều khi rất buồn

mười năm và mười mùa đông
người thi sĩ ấy không còn làm thơ
còn chăng là tiếng ngựa thồ
thở khi lên dốc bụi mờ mịt bay
còn chăng là hai bàn tay
đã chai sạm với tháng ngày gian nan
còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi

Phạm Cao Hoàng 
1985

Đàlạt nostalgia
sơn dầu trên giấy plast 18 x 20 in
dinhcuong

2745. Tranh TRƯƠNG THỊ THỊNH: Chợ chiều - Sơn dầu trên bố, 30" x 40", 1990


Tranh
TRƯƠNG THỊ THỊNH


Chợ chiều
sơn dầu trên bố, 30" x 40", 1990
___________________________

Tranh phong cảnh của chị chịu ảnh hưởng nhiều cảnh cây cỏ, sông, nước, thuyền bè của vùng quê Mỹ Tho, Sa Đéc, Tân Châu, v.v… mà lúc còn trẻ, khi đi tản cư, sống trôi nổi với gia đình chị lớn và bà con ở đó. Đẹp, êm đềm, thuyền bè trên sông nước có bao la nhưng không vô tận, không có thảm kịch. Những trẻ thơ trong tranh của chị tươi mát, hồn nhiên. Những bông hoa màu sắc rực rỡ, đầy sức sống. Những loại tranh này của chị không biểu lộ hết tài năng của chị về sử dụng màu sắc hay bút pháp nhưng đáp ứng được ước vọng của chị là tạo cảm giác thanh bình, hạnh phúc nơi người xem. (Trương Vũ - Vài nhận xét về tính cách hậu ấn tượng trong tranh Trương Thị Thịnh).

Monday, February 20, 2017

2744. PHAN NI TẤN Chết cha con dế


Dế mèn – Nguồn: lemenbros.com


Hôm nay tôi xin kể cho các bạn nghe chuyện cũ rích mà tuổi thơ hầu như ai cũng biết. Thưa, đó là chuyện chơi đá dế, một trò chơi gắn liền với tuổi thơ ở quê nhà. Có điều, dế có hàng trăm hàng ngàn loài dế, kể sao cho hết. Nhưng gần gũi nhất là mấy chú, mấy thím dế dưới đây:

Dế cơm
Tôi không biết tại sao con dế cơm lại có tên là... dế cơm. Nó có giống... hột cơm téo nào đâu. Hay là dế cơm có thân mình trăng trắng, mấy cái chân của nó cũng có đốm trăng trắng nên người ta gọi nó là dế cơm? Đã vậy nó thuộc giống bự chảng, bự nhất trong tất cả loài dế. Nó to cở ngón chân cái, to gấp ba lần chú dế cồ. Nội cái giò của nó búng "pặt" một phát, chú dế lửa nổi tiếng hung hăng nhất cũng bị bắn văng xa... cả cây số.
Hồi nhỏ, trẻ con tụi tui không ai bắt dế cơm cho đá lộn; cũng không phải để... nướng ăn như người Thượng. Í ẹ. Chính mắt tui nhìn thầy thằng Y Nghỉ trong buôn Cô Thôn chợp được chú dế cơm liền ngắt đầu, lặt cánh, "bọp" lòi ruột xong nó làm bộ đưa con dế vô miệng nhai cho tui sợ để nó khoái chí cười chơi.. Thật ra sau đó nó lấy que xuyên bụng dế đem hơ lửa cho chín xong vừa chu mõ thổi phù phù vừa nhai rào rạo ngon lành. Thằng Y Nghỉ táo tợn còn khoe nó từng ăn rắn, rít, bo cạp, ếch, nhái nướng trui. Hồi đó tụi tui đâu có thằng nào dám... "rừng" như thằng này.
Ra đồng ra ruộng lật cục đất lên thấy chú dế cơm là tui nghĩ ngay tới thằng Y Nghỉ. Nói không ai tin, có lúc bất ngờ gặp phải anh dế cơm "bá đạo" thấy tui con nít con nôi vô hại nó nghênh mặt dòm lên thấy bắt ghét. Nếu con dế cơm biết "xì" thì nó cũng "xì" một phát rồi... phủi đít phóng đi.

Dế chó
Cũng như dế cơm, không biết tại sao con dế chó có tên là... dế chó. Nó có giống téo tèo teo nào hình dáng của con... gâu gâu đâu!? Ngay cả con mắt, cái mũi, cái lưỡi, cái tai, cái móng chân hay sợi lông đuôi cũng không mảy may "tương cận" nữa là!
Ngoài dế chó đầu đen, mình đen còn có dế chó mình đen, đâu đỏ. Trẻ con tụi tui thấy nó còn không thèm dòm, ở đó mà bắt chơi. Nó nhỏ xíu hà. Đâu chừng 3mm là cùng. Sau này nghe nói dế chó dùng để nuôi chim chóc hay làm mồi câu. Tội nghiệp cái kiếp... dế chó.

Dế mèn
Nói tới dế mèn người ta thường nhớ tới câu chuyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài, một loại truyện ngụ ngôn thật hay, hoặc ư ử bài hát thiếu nhi Thằng Cuội của nhạc sĩ Lê Thương thật mộc mạc dễ thương từ âm điệu tới lời ca. Tội nghiệp ông nhạc sĩ nhân từ. Thương thằng Cuội cô đơn ngồi ôm một mối mơ nên tác giả nhét vô bản nhạc đủ thứ món trên trời dưới đất, từ bóng trăng, ngọn gió, cây đa, ánh sáng cho tới cái thang, trong đó "có con dế mèn, suốt trong đêm khuya, hát xẩm không tiền, nên nghèo xác xơ"
Vậy dế mèn là dế gì, ai mà không biết. Đây nè:
Dế mèn là chú dế có hình dáng nhỏ xíu xìu xiu, thân dẹt, rầu dài, thường có màu tro. Hồi đó trẻ con tụi tui sợ quê nên không đứa nào chơi dế mèn. Hầu hết ở đâu cũng thấy nó: đồng  ruộng, bụi cỏ, đống đá, hang hóc, góc nhà.... Dế mèn thường sống về đêm, con trống có tiếng gáy rỉ rả, rỉ rích dai dẳng suốt canh khuya. để dụ con cái.

Dế Nhũi
Dế nhũi còn gọi là dế trũi là thứ dế trẻ con tụi tôi ghét nhất ,vì nó có hình dạng xấu xí nhất trong các loài dế: Thân dài khoảng 3 tới 5mm, mắt tròn tròn, hai chân trước như hai cái xẻng đào đất cát để nhũi xuống trốn kẻ thù nên gọi là dế nhũi.
Dế nhũi thường ở dưới đất, trong các hang động nên ít khi thấy, chúng tường kiếm ăn ban đêm.

Dế đá
Hồi nhỏ, ngoài các trò chơi như " Rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, u mọi, ô quan, đánh thẻ, thảy lỗ, tạt lon, tạt hình, búng thun, chọi đáo, bắn bi, đánh trõng, đá cầu... , đá dế là môn trẻ con tụi tui đứa nào cũng chết mê chết mệt. Đi học về là quăng cặp sách ôm hộp dế chạy đi chơi đá dế với đám con nít quỉ hàng xóm.
Phải nói dế than dù to con hơn nhưng không ngon bằng dế lửa. Vì ít khi bắt được dế lửa. Dế lửa đã hiếm mà xung trận lại hăng hơn dế than, hầu như đá đâu thắng đó. Dế cũng giống như... người, trước khi xáp -lá -cà có nhiều chú dế hù địch thủ bằng cách nhe càng, gáy ren rét thị oai. Ê càng hay thua thi xoay đầu bỏ chạy,  thắng thì dế nhà ta phùng cánh gáy vang lừng. Không có gì hấp dẫn cho bằng tiếng dế gáy lúc thắng trận.
Dế có hai lớp cánh xếp gọn gàng đẹp mắt trên lưng, phủ từ ngấn cổ xuống đít. Dế màu đen thì gọi là dế than. Dế màu lửa lửa thì gọi là dế lửa. Ông bà mình nhìn mặt đặt tên không trật chỗ nào. Cặp cánh phía ngoài dầy và khá trong suốt. Lúc gáy hai cánh phùng lên cọ vào nhau liên hồi tạo nên âm thanh rét rét nghe đã cái lỗ nhĩ.
Dế mà mất lớp cánh phía trong thì gọi là dế trục.Không những không tổn hại gì tới dế mà nhiều khi càng..." trục" càng dễ nổi khúng, đá rất hăng. Tui có thằng bạn học tên Sơn khoái chơi dế trục nên chết danh Sơn trục.   
Hình như dế gáy bất kể giờ giấc. Dế gáy lúc tinh sương, hay giữa trưa hè nắng gắt, gáy lúc chiều tà hay đêm khuya lơ đều làm cho trẻ con tụi tui không ngớt háo hức, xốn xang. Đặc biệt là tiếng "chịch mái". Nghe tiếng "chích chích" đều đều, liên tục là biết anh dế trống đang "dê" chị dế mái. Lúc "dê", hai cái đít anh chị cạ vào nhau trông thiệt ngộ. Dế trống không có hai cái kim nhọn ở đằng đít như dế mái. Hai cái kim đó để cắm xuống đất khi dế mái đẻ con. Trời sanh nhiều cái thiệt ngộ he.
Bạn bè tuổi thơ, ngoài hai anh em Khánh già và tui, còn có Quế ù, là bộ ba thân thiết nhất. Anh tui có gương mặt dài như mặt ngựa và coi già già thì tụi bạn hàng xóm đặt tên là Khánh già. Tui mắt hí chết danh Hòa hí. Quế tròn ù thì gọi là Quế ù.Vì là hàng xóm nên đi học cũng rủ nhau đi, về cũng chờ nhau về, chơi trò chơi gì cũng có mặt, nhất là đi bắt dế.
Bắt dế có nhiều cách: bỏ kiếng bù nhọt hoặc đổ nước xuống hang, một chặp sau  dế nhà ta bị kiếng cắn hoặc ngộp nước là trồi đâu lên ngay. Dế bắt được đem về đựng trong hộp bánh bích quy hoặc trong hộp quẹt. Thức ăn của dế thường là cỏ, gía sống, rau sam, bánh mì, cơm nguội.
Thập niên 1950-60, ra khỏi thị xã Ban Mê Thuột chừng một cây số là gặp rừng, thế giới của các loài động vật. Rẫy dì Mại, nghĩa địa làng, khu Rau Xanh, suối Đốc học, suối Mu-ri, đồn điền CHPI... đều in dấu chân tuổi thơ tụi tui đi bắt dế.  
Trong "ba chàng nhà quê núi", Khánh già cao ngòng, ốm nhách, chững chạc, là tay bắt dế số dzách. Tánh tình Quế ù hay lăng xăng lít xít, bộp chà bộp chộp. Vừa nghe tiếng dế gáy xa xa là Quế nhà ta lính qua lính quýnh; miệng cà lăm, chân đâm đầu chạy tới. Lần nào cũng bị Khánh già chửi thề nhặng xị. Tui vốn nhỏ con làm việc gì cũng vụng về, chậm lụt. Có lần tui lớ quớ thò tay vô lon sữa bò bắt dế ra đá bị nó cạp cho một phát la làng. Đau toé khói tui rút tay ra vẫy mạnh một cái "bịch". Vừa mút máu ngón tay tui vừa nhìn xuống đất thì thấy "chết cha con dế" rồi. Thuở đời nay, con ruồi con muỗi tui còn không giết huống hồ con dế thân yêu. Thấy nó bẹp di mà tui ngẩn ngơ tiếc muón đứt ruột.
Chuyện mới đó thoắt một cái đã ngót 60 năm trời. Ngày nay Quế ù (vẫn tròn ù) và tui đã lưu lạc xứ người và đều đang ở cái tuổi cổ lai hi. Đôi khi ngồi một mình nhớ lại chuyện đời xưa tôi không biết ông anh Khánh già của tui và hồn mấy con kiến, con dế đang làm gì. Nhưng tôi biết chắc một đìều khi gặp lại nhau, bằng một trái tim dịu dàng và chân thành"họ" đều gợi đến sự thông cảm, tha thứ cho nhau cũng như san sẻ cho nhau niềm hạnh phúc trên thiên đàng.
Trong thi ca Việt Nam, có những câu thơ nói về con dế thiệt hay mà cũng thiệt bồi hồi:
Con dế vẫn là con dế ấy. Hát rong bờ cỏ giọng thân quen (Tô Thùy Yên)
Nghe con dế gáy sao em thương cái góc nhà (Cao Huy Khanh).
Phan Ni Tấn
February 2017

2743. Thơ LÊ PHƯƠNG NGUYÊN Trở về trường cũ của em


LÊ PHƯƠNG NGUYÊN
Trở về trường cũ của em


"Người phụ nữ nhìn qua ban công"
tranh  Mai Trung Thứ vẽ năm 1940, từng được bán đấu giá
tại Hongkong với mức 70,000.00 USD



Cổng truờng vàng nhuộm nắng mai
Đâu đây dáng cũ u hoài ngày xưa
Hoa vàng nhẹ cánh đong đưa
Rêu phong mái ngói đủ vừa nhớ thuơng
Biết đâu trên những con đuờng
Hiu hiu còn chút mùi huơng gót mình
Đôi bồ câu trắng xinh xinh
Tròn đôi mắt, biết bóng hình nguời quen
Có con buớm lạ màu kem
Khua nhanh nhịp cánh bên thềm tìm hoa
Đám mây nào của ngày xa
Trắng phau nguyên dáng hào hoa gọi mời
Còn trời xanh nữa mây ơi
Dang tay rộng đón mộng đời thanh xuân
Thời gian từng giọt bâng khuâng
Như quên, như nhớ, như gần, như xa  
Mùa xuân xanh biếc trôi qua
Thơm màu dĩ vãng lòng pha ngậm ngùi …
                                           
Lê Phương Nguyên
1982

Sunday, February 19, 2017

2742. LÊ VĂN THIỆN Truyện ngắn CHẬP CHỜN

Source: khohinhnen.com




          Yên chơi thân với Hạt, Lưu từ thời trung học, ở Đà Lạt. Về sau, lớn lên, anh trôi giạt từ Trung vô Nam, rồi quay ngược ra. Nay Yên trở lại Đà Lạt một mình, trong vai du khách. Anh ăn uống ở các quán hạng trung, ngủ trong một khách sạn be bé. Sang ngày thứ hai, tình cờ, may mắn, Yên gặp Lưu. Qua Lưu anh nối lại sợi dây thân tình với Hạt… Trước khi đến thăm vợ chồng Hạt, Yên ở nhà Lưu ba ngày.
        Trang trại của Hạt nằm trong xó núi Tiên Hà, cách thị trấn Tam Dương hơn mười cây số. Đây là vùng mới khai phá trong đợt di dân năm 1982. Trên khu rừng rộng, rậm rạp, chỉ có tám mươi nóc nhà, trong đó có ba mươi hộ người Raglai. Gia đình Hạt, bốn người, ở trong hai ngôi nhà lớn, còn mới. Sáu người làm công – chuyên trồng rau cải, chăm sóc cà phê – và một chị chăn bò, sống trong căn nhà mái tôn vách gỗ, cách nhà chủ chừng trăm mét.
        Đất vườn rộng, có nhiều người giúp việc, trông Hạt ra dáng ông chủ… Tám giờ tối, Hạt và Yên uống cà phê. “Tối qua, giấc này, mình và Lưu dạo phố”, Yên nói. “Đi những đâu?”, Hạt hỏi. “Từ Võ Tánh xuống rạp xi-nê cũ, xuống Bùi Thị Xuân, vòng qua Phan Đình Phùng… Nay phố lớn, đường rộng, người đông”. “Đông hơn xưa bảy lần”. Yên lặng vài phút. “Đổi mới hay ăn xổi?”. Nghĩ suy khá lâu. “Nó mang cả hai bản mặt đó… nhưng mặc nó, tìm đâu cho ra sự hoàn hảo trên cõi đời ô trược này”. “Ô gì”. “Ô trược!”. Hạt cười ha hả. “Dạo chơi, đi chậm, nhìn ngắm, nhớ lại thời trước”. “Xưa kia, ngày cũ, hồi đó… lớn tuổi thường quẩn quanh với chùm quá khứ, dĩ vãng, lắm lúc nó khiến ta bải hoải, mệt nhoài”. “Không nhớ thì làm gì.” Đà Lạt là núi đồi và thông. Thông mất nhiều, còn chừng phân nửa. Có người nhớ nó. Giới bô lão lẩn thẩn tiếc thương nó. Bọn trẻ chắc không biết, chẳng để ý. Bụng để ngoài da, chúng chỉ quan tâm máy móc, xe cộ, điện thoại… “Đi thế này mình nhớ Thái Phương, liên tưởng vụ sóng thần Thái Lan”, Yên nói. Ngày 26 tháng 12 năm nào du khách quốc tế cũng đổ về Thái đốt nến, thắp nhang trên các bãi biển, tưởng niệm những thân nhân của họ đã chết trong trận sóng thần tai ác năm 2004. Qua chuyện này, ta thấy dân Tây không khô khan, lớt phớt. Xa xôi như thế mà lặn lội đến để khóc, tưởng nhớ… Con người nhỏ bé, cõi đời bảng lảng, chênh vênh.
        Mới đó mà hơn ba mươi năm. Từ Đà Lạt lên hốc núi Tiên Hà này chỉ tám chục cây số, nhưng đã khá lâu Hạt không gặp Lưu. Cuộc sống của hai người khác nhau xa. Mối thâm tình của tuổi mộng mơ ngày càng lợt, nhòa. “Chuyện vợ chồng Lưu xộc xệch lắm”, Hạt nói. Nghe vậy, biết vậy, Yên chưa hề gặp Ngộ, vợ Lưu. Hạt nhận xét: Ngộ mang trong người dòng máu nghệ sĩ. Con nhà giàu, nghề nghiệp sáng rỡ, lại ôm anh chàng lêu bêu, chẳng có một nét nổi bật nào, không nghệ sĩ là gì? Nay anh chị vẫn còn là vợ chồng, nhưng sống riêng, làm ăn riêng, bề ngoài nom có vẻ bình lặng, yên ổn, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy có những vết xám bất thường bao quanh họ. “Con cái thì sao”, Yên hỏi. “Một trai chừng mười tuổi, sống với ông bà ngoại”. “Nay Lưu làm gì”, Hạt hỏi. “Không rõ, anh ấy đi suốt ngày, tối mới về. Ở nhà chỉ có ông già và chị ôsin”. “Có dạo Lưu buôn bán gỗ, rồi vào Bạc Liêu nằm lì mấy năm, nuôi tôm làm muối”. Vậy thì, Lưu mới là nghệ sĩ, không phải Ngộ.
        Trời đẹp, Lưu – Yên thả bộ suốt hai tiếng. Đi, nhìn, ngó quanh quất, thấy sướng. Lưu nói, lâu nay anh không đi thế này, hễ ra khỏi nhà là lên xe. Đi, ôn lại cảnh cũ trong đầu, nhớ những hàng thông, những triền đồi rợp vàng hoa cúc dại… Xưa, Yên hay tắm nước nóng ở một tiệm nhỏ, không tên, gần cà phê Tùng, nay tiệm không còn. Nhà giặt ủi đông khách kế bùng binh, gần chợ cũng không còn. Mất cũng phải, lâu quá, hơn ba mươi năm. Có lẽ đó không phải mất, nó tiến hóa? Hai nhà sách Khải Minh, Tuyên Đức chiều nào Yên cũng ghé vào mua báo, đã qui tiên. Hai khách sạn Thanh ngọc, Vinh Quang trước rạp xinê vẫn còn, cao to hơn trước, giờ mang tên mới… Có những thứ nhỏ, vụn vặt nhưng cũng có hồn cốt, khiến người ta khó quên, như tiệm giặt ủi, nhà tắm nước nóng. Tắm nước nóng, dịch vụ độc đáo, đặc sản Đà Lạt. “Chiều xẩm, bỏ chiếc khăn nhỏ, cục xà bông thơm trong túi áo jacket, tạt vào nhà tắm quen, tẩy trần hai chục phút, sạch sẽ thơm tho, trước khi ăn cơm, dạo phố”, Yên nói. Lưu cười. “Hàng bánh xèo bên hông rạp xinê, trước tụi mình thường ăn, còn không”, Yên hỏi. “Còn, nay người khác bán”… Đi loanh quanh, nghĩ vẩn vơ, mỏi chân, hai bạn tấp vào một quán cà phê vỉa hè. Cà phê không nhạc, có hai bàn cờ tướng, một nhóm người trẻ đánh cờ. Hai ly đen đá. “Hai đen đá, cô chủ!”. Một câu thường, quen thân, nhưng có chút gì đó làm ta xốn xang.
        Yên nói: “Tôi còn nhớ tên mấy khách sạn: Việt Nam, Mimosa, Cao Nguyên… các hiệu ảnh Ngọc Dung, Đại Việt”. Lưu khen: “Tài, anh nhớ giỏi. Khách sạn còn có Thanh Tùng, Phú Hòa, Sài Gòn… Thế, quên các nhà sách Khai Trí, Hòa Bình, Văn Hóa, Liên Thanh rồi sao?”… Nói đến cà phê không thể bỏ qua quán Tùng. Cà phê Tùng như người tiên, không già. Nhược điểm của nó là nhỏ hẹp, nằm chỗ ồn ào, nhưng lớp người cũ vẫn nhớ nó. Chủ quán hiện giờ là con ông chủ cũ. Nhiều người khen, anh này được lắm, có máu văn nghệ. Anh vui mừng khi tiếp đón các vị khách xưa. Những người đó bước vào, anh nhận ra ngay. Anh bảo, trông cách ngắm nghía, dáng ngồi, kiểu uống của họ, mình biết, không lầm… Ngay tối đầu tiên lên đây, Yên ghé lại Tùng, một mình. Quán thưa khách, còn sớm, nhạc mở nhỏ, phảng phất dư âm cũ. Cái gì rồi cũng qua. Ai rồi cũng sẽ già. Núi còn mòn nói chi người. Còn biết yêu thiên nhiên, nhớ thương những nét đẹp, những hương vị ấm nồng một thời là mừng. Yên nhớ lại, cố nhớ tên những bản nhạc mình thường nghe tại quán này, trước đây. Một cô tiếp viên đến, hỏi mấy câu, Yên đáp qua loa, cô bé bỏ đi.

Đọc tiếp...

Saturday, February 18, 2017

2741. Tranh TRƯƠNG THỊ THỊNH: Ánh hồng trên sông sơn dầu trên bố, 24" x 36", 1990


Tranh
TRƯƠNG THỊ THỊNH


Ánh hồng trên sông
sơn dầu trên bố, 24" x 36", 1990